Rỉ sắt hại cà phê

T2, 12/26/2011 - 11:27

Bệnh rỉ sắt hại cà phê do nấm Hemileia vastatis gây ra. Đây là bệnh nghiêm trọng gây hại ở tất cả các vùng trồng cà phê ở Việt Nam [1]

(Bài viết này mang tính chất tham khảo. Kiến thức sâu sẽ được tìm thấy trong những tác phẩm chuyên khảo, quy trình do cơ quan quản lý ban hành.)



Nội dung

1. Mô tả cà phê

2. Sâu bệnh hại cà phê

3. Mô tả bệnh rỉ sắt

4. Đặc điểm gây hại

5. Các biện pháp phòng trừ

6. Phụ lục

7. Tài liệu tham khảo

Mô tả cà phê [2]

Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiến thảo. Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới. Chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế. Loài thứ nhất có tên là cà phê chè, đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối, chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có cà phê mít với sản lượng không đáng kể.

Cây cà phê có thể cao tới 6-10 m. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4-6 cm. Rễ cây cà phê là loại rễ cọc làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây.

Hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa. Cà phê là loài cây tự thụ phấn. Sau khi thụ phấn từ 7-9 tháng cây sẽ cho quả hình bầu dục. Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ sẫm.

Sâu bệnh hại cà [3]

Bệnh rỉ sắt: bệnh gây ra hiện tượng vàng lá, rụng lá làm giảm tỷ lệ ra hoa, đậu quả. Gây hiện tượng quả nhỏ, quả bị khô, lép, gây chết cành, làm giảm năng suất và phẩm chất cà phê nghiêm trọng. Cây cà phê bị bệnh giảm sức sống và giảm dần năng suất ở các vụ sau. Đây là loại bệnh gây hại phổ biến trên các vườn cà phê. Ngoài ra còn một số sâu bệnh hại cà phê khác như: bệnh khô cành, khô quả, bệnh nấm hồng, bệnh tuyến trùng, rệp vảy xanh, rệp vảy nâu, mọt đục quả.

Mô tả bệnh rỉ sắt

Bệnh rỉ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatis gây ra. Bệnh gây hại chủ yếu trên lá. Triệu chứng điển hình của bệnh là mặt dưới lá xuất hiện những đốm bệnh tròn, lúc đầu nhỏ, về sau lớn dần, đường kính trung bình 2-3 mm, trên mặt vết bệnh phủ một lớp bột phấn màu vàng da cam, đó là các bào tử nấm bệnh. Mỗi đốm có khoảng 200.000 bào tử.

Trên một lá có nhiều đốm bệnh, một số đốm liên kết nhau tạo thành đốm bệnh lớn. Lá bị biến vàng, rụng hàng loạt, cành khô, cây sinh trưởng kém, giảm năng suất.

Đặc điểm gây hại

Bào tử nấm nẩy mầm thích hợp ở nhiệt độ từ 20-25 độ C. Bào tử phát tán trong không khí nhờ gió, nước, côn trùng, người đi lại chăm sóc. Ở miền Bắc, bệnh phát sinh và phát triển ở vụ xuân hè trong tháng 2,3,4; vụ thu đông trong tháng 9,10,11, nhưng tỷ lệ và mức độ bệnh nặng ở các tháng 3,4 và tháng 10,11. Ở miền Nam, bệnh thường phát triển mạnh và nặng ở các tháng 10,11,12. Các giống cà phê chè và cà phê vối bị nhiễm bệnh này nặng, cà phê mít bị nhiễm bệnh ở mức độ trung bình. Hiện nay có giống cà phê chè Catimor có khả năng chống bệnh cao

Các biện pháp phòng trừ tổng hợp

Biện pháp giống

Trồng giống kháng bệnh

Biện pháp canh tác

Tỉa cành cho cây thông thoáng, vệ sinh vườn cà phê, làm cỏ sạch để hạn chế sự lây lan và phát triển bệnh.

Chăm sóc và bón phân đầy đủ

Biện pháp hoá học

Phun thuốc vào giai đoạn bệnh rỉ sắt chớm xuất hiện, phun lại khi điều kiện khí hậu thích hợp cho bệnh phát triển. Phun ướt đều cả hai mặt lá. Khi dùng thuốc hoá học phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng. Các hoạt chất và thuốc thương phẩm tương ứng có thể tình thấy trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt nam. Trước khi sử dụng xem kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc.

Phụ lục

Tóm tắt tính năng tác dụng, cách sử dụng một số loại thuốc trừ bệnh rỉ sắt hại cà phê phổ biến

Hoạt chất Carbendazim

- Nhóm Carbamate trừ nấm

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp có tác động bảo vệ và diệt trừ nấm. Thuốc hấp phụ qua rễ, mô lá, và chuyển dịch hướng ngọn

- Thuốc có tác động ức chế sự phát triển ống mầm, ngăn cản sự hình thành giác bám và sự phát triển của sợi nấm. Thuốc ức chế tổng hợp chất beta-tubulin

- Lượng dùng: dùng 500 g ai/ha, pha trong 400 - 600 lít nước/ha

- Phun ướt đều cả hai mặt lá

- Phun thuốc khi tỷ lệ bệnh 5%

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 14 ngày

Hoạt chất Cyproconazole

- Nhóm Conazole trừ nấm

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp có tác động phòng và trừ bệnh. Thuốc hấp thụ nhanh chóng vào cây và chuyển dịch hướng ngọn

- Thuốc ức chế phân huỷ nhóm methyl của steroid

- Lượng dùng: dùng từ 60 đến100 g ai/ha, pha trong 400 - 600 lít nước/ha

- Phun ướt đều cả hai mặt lá

- Phun khi bệnh chớm xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 14 ngày

Hoạt chất Diniconazole

- Nhóm Conazole trừ nấm

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp với tác động phòng, chống và diệt trừ nấm. Thuốc hấp thụ nhanh chóng vào cây và chuyển dịch hướng ngọn

- Thuốc ức chế phân huỷ nhóm methyl của steroid

- Lượng dùng: dùng từ 100 đến 200 g ai/ha, pha trong 400 – 600 lít nước/ha

- Phun ướt đều cả hai mặt lá

- Phun khi bệnh chớm xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 21 ngày

Hoạt chất Epoxiconazole

- Nhóm Conazole trừ nấm

- Nhóm độc: không thể hiện tính độc trong sử dụng thông thường (WHO)

- Thuốc trừ nấm phổ rộng, tác động nội hấp, có tác dụng bảo vệ và diệt trừ nấm. Thuốc nhanh chóng thấm qua bề mặt và phân bổ đều trong lá, lưu dẫn mạnh trực tiếp đến các vết bệnh nơi nấm xâm nhập. Hiệu quả của thuốc kéo dài nhờ vào đặc tính phòng bệnh (ngăn chặn sự xâm nhập của nấm bệnh), trị bệnh (chặn đứng sự tiến triển của nấm bệnh) và diệt triệt để (nấm đã xâm nhập và các bào tử mới).

- Thuốc kìm hãm men C-14 demethylase trong quá trình tổng hợp steroid

- Thuốc đạt hiệu quả phòng trị cao, giảm chi phí công lao động và số lần phun

- Lượng dùng:dùng từ 500 đến 900 g ai/ha, pha trong 400 - 600 lít nước/ha

- Phun ướt đều cả hai mặt lá

- Phun khi bệnh chớm xuất hiện. Lặp lại sau 2-3 tuần nếu bệnh nặng

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Triadimefon

- Nhóm Conazole trừ nấm

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp với tác động phòng, chống và diệt trừ nấm. Thuốc hấp thụ qua lá và rễ, vận chuyển nhanh tới các mô non, nhưng vận chuyển yếu hơn trong mô già và mô hoá gỗ

- Thuốc kìm hãm sinh tổng hợp ergosterol, phá vỡ màng chức năng

- Lượng dùng: dùng từ 25 đến 50 g ai/ha, pha trong 320 - 500 lít nước/ha

- Phun ướt đều cả hai mặt lá

- Còn thiếu phần thời điểm xử lý thuốc và thời gian cách ly. Cần bổ sung

 

Biên soạn: Phạm Thị Thuỳ Linh, ACC

 

Tài liệu tham khảo

1.http://www.cuctrongtrot.gov.vn/Tech_Science.aspx?index=detail&type=a&idtin=456

2.http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi_C%C3%A0_ph%C3%AA

3.http://123mua.forumvi.com/forum-f37/topic-t674.htm

4.http://allgroundup.com/vn/farming/maintaining/rust/

5.http://www.alanwood.net/pesticides/index.html

6.http://sitem.herts.ac.uk/aeru/footprint/en/Reports/8.htm

7.Từ điển sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam, nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2005.

8.The pesticide manual, 2010

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp