Rầy nâu hại lúa

T2, 12/26/2011 - 11:00

Rầy nâu là đối tượng sâu hại chủ yếu trên lúa. Rầy nâu có thể gây thành dịch trên diện rộng hại lúa giai đoạn từ trổ bông đến chín đỏ đuôi. Nếu không tích cực phòng trừ một cách quyết liệt và đồng bộ thì có thể bị mất mùa [1].

(Bài viết này mang tính chất tham khảo. Kiến thức sâu sẽ được tìm thấy trong những tác phẩm chuyên khảo, quy trình do cơ quan quản lý ban hành.)


Nội dung

1. Mô tả lúa

2. Sâu bệnh hại lúa

3. Mô tả rầy nâu

4. Đặc điểm gây hại

5. Các biện pháp phòng trừ

6. Phụ lục

7. Tài liệu tham khảo

Mô tả lúa [2]

Lúa là loài thực vật sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp bản (2-2,5 cm) và dài 50-100 cm. Các hoa nhỏ thụ phấn nhờ gió mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 30-50 cm. Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5-12 mm và dày 2-3 mm. Cây lúa non được gọi là mạ. Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc. Sau khi sát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo. Gạo là nguồn lương thực chủ yếu của hơn một nửa dân số thế giới, điều này làm cho lúa trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ nhiều nhất.

Sâu bệnh hại lúa

Bệnh đạo ôn do loài nấm Magnaporthe grisea gây ra, là loại bệnh đáng chú ý nhất gây ảnh hưởng tới năng suất lúa. Lúa còn bị một số sâu bệnh phá hoại như cháy cổ lá, bạc lá, rầy nâu (Nilaparvata lugens), châu chấu, bọ trĩ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, rầy xám, các loài bọ xít (họ Pentatomidae) như bọ xít đen, bọ xít xanh, bọ xít dài, bọ xít gai, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá lớn, sâu đục thân lúa hai chấm, sâu năm vạch đầu nâu, sâu năm vạch đầu đen, sâu cú mèo, sâu keo, sâu cắn gié, sâu đo xanh, ruồi đục nõn, sâu nâu, v.v.

Mô tả rầy nâu

                                                      

Rầy trưởng thành cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa và đẻ trứng trên các bẹ lá hoặc ở các gân lá.

Trứng xếp h ình nải chuối.

Rầy non tuổi 1 có màu tr ắng, các tuổi sau có màu vàng nâu.

Rầy t rưởng thành có hai loại: cánh dài và cánh ngắn. Rầy trưởng thành cánh ngắn xuất hiện phổ biến trước lúc trổ bông, rầy cánh dài thường xuất hiện vào giai đoạn lúa chín và di chuyển, ph át tán.

Cả rầy non và trưởng thành không thích ánh sáng trực xạ nên rầy nâu sống gần gốc lúa, chích hút ngay thân lúa, chỉ khi râm mát rầy trưởng thành mới bò lên mặt lá.

Vòng đời của rầy nâu

Vòng đời của rầy nâu từ 25 - 28 ngày, trong điều kiện nhiệt độ 25 - 30oC, phát triển qua các giai đoạn:

                                          

Đặc điểm gây hại

Tác hại trực tiếp: rầy cám và rầy trưởng thành cánh dài hoặc cánh ngắn đều chích hút nhựa cây lúa gây ra hiện tượng cháy rầy khi mật số cao. “Cháy rầy” là cả ruộng lúa bị khô héo, màu trắng tái hoặc trắng. Nếu gặp mưa lúa bị hại có thể bị thối nhũn. Năng suất có thể bị giảm tới

50% hoặc mất trắng [3]. Rầy nâu gia tăng mật số nhanh và cao (bột phát) gây hại nặng cho cây lúa khi:

Trồng lúa liên tục trong năm,

Dùng giống nhiễm rầy,

Gieo sạ mật độ dày,

Bón dư thừa phân đạm,

Phun thuốc trừ sâu không đúng cách (trộn nhiều loại thuốc, phun nhiều lần…).

Tác hại gián tiếp: là môi giới truyền vi rút gây bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá cho cây lúa. Rầy nâu chích hút nhựa cây lúa bị bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá rồi mang mầm bệnh vi rút trong cơ thể để truyền sang cho cây lúa khoẻ mạnh khi chúng đến chích hút cây lúa đó.

Rầy nâu mang mầm bệnh có khả năng truyền bệnh cho đến khi chết.

Cây lúa càng non càng dễ bị nhiễm bệnh, về sau có thể không trổ bông được, năng suất giảm nghiêm trọng hoặc mất trắng. Cây lúa già bị nhiễm bệnh thì năng suất bị giảm ít hơn.

Tóm lại, rầy nâu chỉ truyền bệnh khi có nguồn bệnh tồn tại trên đồng ruộng.

Các biện pháp phòng trừ tổng hợp

Biện pháp giống

Sử dụng giống lúa kháng rầy, lúa giống có chất lượng tốt, không lấy lúa thịt làm lúa giống; nếu có điều kiện thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý hạt giống.

Biện pháp canh tác

Không trồng lúa liên tục trong năm, bảo đảm thời gian cách ly giữa hai vụ lúa ít nhất 20-30 ngày, không để vụ lúa chét. Theo sự phân vùng của ngành nông nghiệp, thời vụ trong cùng một vùng phải tập trung, không được gieo sạ kéo dài;

Vệ sinh đồng ruộng bằng cách cày, bừa kỹ trước khi gieo sạ, dọn sạch cỏ bờ ruộng, mương dẫn nước;

Không gieo sạ quá dày trên 120kg giống/ ha;

Gieo sạ lúa vào thời gian có thể né rầy: thường mỗi tháng có một đợt rầy vào đèn rộ kéo dài từ 5 - 7 ngày; để né rầy thì gieo sạ ngay sau đỉnh cao rầy vào đèn. Như vậy, khi lúa non sẽ tránh được rầy trưởng thành truyền bệnh.

Để bảo vệ cây lúa non, sau khi sạ nên cho nước vào ruộng và duy trì mực nước thích hợp để hạn chế rầy nâu chích hút thân cây lúa.

Không bón quá thừa phân đạm (urê); tăng lượng phân lân và phân kali để nâng cao sức chống chịu đối với bệnh.

Thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm sự xuất hiện của rầy nâu trên cây lúa (phải vạch gốc lúa để xem).

Giai đoạn đầu vụ hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc sâu, làm ảnh hưởng đến các thiên địch như: chuồn chuồn, nhện, bọ rùa, kiến ba khoang, bọ xít mù… chúng ăn rầy nâu, giúp hạn chế mật độ.

Biện pháp thủ công

Bẫy đèn bắt bướm, ngắt ổ trứng,…

Biện pháp thủ công

Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại.

Ưu tiên sử dụng các loại thuốc Bảo vệ thực vật sinh học.

Biện pháp hoá học

Mật độ rầy trên 3 con/dảnh phải dùng thuốc hoá học. Khi dùng thuốc hoá học phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng. Các hoạt chất và thuốc thương phẩm tương ứng có thể tình thấy trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt nam. Trước khi sử dụng xem kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc.

Phụ lục

Tóm tắt tính năng tác dụng, cách sử dụng một số loại thuốc trừ rầy nâu phổ biến

Hoạt chất Buprofezin

- Nhóm điều tiết sinh trưởng côn trùng

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, xông hơi yếu không lưu dẫn.

- Thuốc kìm hãm tổng hợp chitin, cản trở quá trình lột xác của rầy non, làm rầy non bị chết. Thuốc không diệt được rầy trưởng thành nhưng làm hạn chế khả năng đẻ trứng của chúng. Hiệu lực của thuốc thể hiện chậm (sau 2-3 ngày khi rầy non lột xác mới chết nhưng thời gian duy trì hiệu lực kéo dài).

- Thuốc thường được dùng khi mật độ rầy 10-30con/khóm (500-1.500con/m2)

- Lượng dùng: dùng từ 100 đến 150 g ai/ha, pha trong 400-500 lít nước/ha

- Phun thuốc khi rầy cám nở rộ

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Etofenprox

- Nhóm Pyrethroid không este

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc

- Thuốc tác động đến thần kinh côn trùng, gây chết nhanh

- Lượng dùng: dùng từ 70-100 g ai/ha, pha trong 500-600 lít nước/ha

- Phun thuốc khi sâu tuổi nhỏ, mới xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Fenobucarb

- Nhóm Carbamate

- Nhóm độc II (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, không nội hấp.

- Thuốc kìm hãm hoạt động của men cholinesteraza. Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành, không diệt trứng.

- Lượng dùng: dùng từ 500 đến 750 g ai/ha, pha trong 800 lít nước/ha

- Phun thuốc khi sâu tuổi nhỏ, mới xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Imidacloprid

- Nhóm Neonicotionoid

- Nhóm độc II (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và nội hấp. Khi phun vào cây thuốc được hấp thu nhanh chóng và chuyển dịch hướng ngọn; thuốc nội hấp qua rễ mạnh.

- Trong cơ thể côn trùng thuốc không bị phân ly, thuốc dễ dàng xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương; tác động như một chất đối kháng, bằng cách kết gắn với những thụ quan nicotenic sau khớp thần kinh trong hệ thần kinh trung ương côn trùng.

- Thuốc diệt trừ nhanh rầy non và rầy trưởng thành.

- Lượng dùng: dùng từ 20 đến 50 g ai/ha, pha trong 400-500 lít nuớc/ha

- Phun thuốc khi sâu tuổi nhỏ

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Thiamethoxam

- Nhóm Neonicotionoid

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn. Thuốc hấp thu nhanh vào cây và dịch chuyển hướng ngọn trong bó mạch.

- Thuốc kích động thụ quan nicotinic axetylcholin, ảnh hưởng đến xynap trong hệ thần kinh trung ương côn trùng.

- Thuốc diệt trừ nhanh rầy non và rầy trưởng thành.

- Thuốc thường được dùng khi mật độ rầy trên 30con/khóm đến cháy rầy cục bộ

- Lượng dùng: dùng từ 6 đến 20 g ai/ha, pha trong 500-600 lít nước/ha

- Phun thuốc khi sâu mới xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Có thể tham khảo những ý kiến chuyên môn về cách chọn thuốc tương ứng với giai đoạn sinh trưởng của lúa và mật độ rầy tại các tài liệu [3,4].

 

Biên soạn: Phạm Thị Thuỳ Linh, ACC

 

Tài liệu tham khảo

1.Sổ tay phòng trừ rầy nâu truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa. Trung tâm khuyến nông quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 11 năm 2006.

2.http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa

3.Theo Nguyễn Văn Duy, trạm khuyến nông Hiệp Hoà, Bắc Giang, Kinh nghiệm chọn thuốc trừ rầy nâu hại lúa đông xuân cuối vụ

<http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/kinh-nghiem-chon-thuoc-tru-ray-nau-hai-lua-

4.Theo tài liệu khuyến nông, Phòng trừ rầy nâu hại lúa, Cập nhật: 09/9/2009 tại

<http://222.255.28.35/Default.asp?NewsID=45212>

111ong-xuan-cuoi-vu/newsitem_view?b_start:int=840&-C=>

5 http://www.vaas.org.vn/Images/caylua/06/28_ipm.htm

6.http://www.alanwood.net/pesticides/index.html

7.http://sitem.herts.ac.uk/aeru/footprint/en/Reports/8.htm

8.Từ điển sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam, nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2005.

9.The pesticide manual, 2010

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp