Rầy xanh hại chè

T2, 12/26/2011 - 11:42

Rầy xanh tên khoa học Empoasca flavescens F. là một trong những loại sâu hại chè quan trọng nhất ở các vùng sản xuất chè nước ta. Rầy xanh gây hại làm giảm năng suất và chất lượng búp chè [1].

(Bài viết này mang tính chất tham khảo. Kiến thức sâu sẽ được tìm thấy trong những tác phẩm chuyên khảo, quy trình do cơ quan quản lý ban hành.)


Nội dung

1. Mô tả cây chè

2. Sâu bệnh hại chè

3. Mô tả rầy xanh

4. Đặc điểm gây hại

5. Các biện pháp phòng trừ tổng hợp

6. Phụ lục

7. Tài liệu tham khảo

Mô tả cây chè

Cây chè tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè. Cây chè có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á, ngày nay được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chè là loại cây xanh lưu niên, có rễ cái dài. Hoa màu trắng ánh vàng đường kính từ 2,5-4 cm với 7-8 cánh hoa. Hạt có thể ép để lấy dầu. Lá dài từ 4-15 cm và rộng từ 2-5 cm. Lá tươi chứa khoảng 4% caffein. Lá non màu xanh lục nhạt được thu hoạch để sản xuất chè. Lá già màu xanh lục sẫm. Các độ tuổi khác nhau của lá chè tạo ra các sản phẩm chè khác nhau về chất lượng. Thông thường, chỉ có búp chè và hai lá kế tiếp được thu hoạch để chế biến [2].

Sâu bệnh hại chè

Chè là cây trồng được thu hái quanh năm nên có thành phần sâu, bệnh hại rất phong phú. Các loại sâu và bệnh hại chè thường gặp là: rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, nhện đỏ, thối búp, đốm nâu, phồng lá, chấm xám, thán thư,...[3]

Mô tả rầy xanh

                                                           

Rầy trưởng thành: thân dài từ 2,5-4 mm, màu xanh lá mạ, đầu hình tam giác, chính giữa đỉnh đầu có đường vân trắng, hai cánh trước màu xanh trong suốt xếp úp hình mái nhà. Rầy xanh thường đẻ trứng ở các mô mềm của búp chè, nhưng tập trung ở các đốt nối, một con rầy cái trưởng thành có thể đẻ trung bình khoảng 30 trứng và chúng có thể đẻ tối đa tới 150 trứng.

Trứng: hơi cong hình quả chuối dài khoảng 0,8 mm, trứng mới đẻ màu trắng sữa, trứng sắp nở có màu lục nhạt.

Rầy non: có 5 tuổi, có hình thái gần giống rầy trưởng thành nhưng không có cánh, về màu sắc lúc mới nở (tuổi 1) có màu trắng, sang tuổi 2-5 có màu xanh vàng đến xanh lá mạ [1].

Đặc điểm gây hại

Cả rầy non và trưởng thành hút nhựa ở búp chè và lá non làm cho lá non cằn lại, mép lá cong lên như hình dạng cái thìa úp. Nếu bị hại nặng, chóp lá bị khô có màu thâm đen và lan dần xuống 2 bên mép lá gọi là ”cháy rầy”.

Rầy xanh thường ẩn mặt sau lá chè, thời gian phát dục của ấu trùng thường 9-16 ngày tùy theo mùa (mùa hè thời gian phát dục ngắn hơn mùa thu, mùa xuân và mùa đông).

Rầy xanh gây hại quanh năm trên nương chè, nhưng nặng nhất vào tháng 3-5 và tháng 8-10 [3].

Các biện pháp phòng trừ tổng hợp

Biện pháp canh tác [4]

Trên cây chè cần áp dụng các biện pháp canh tác dưới đây:

Kỹ thuật làm đất trồng mới nương chè

Đất trồng chè phải chọn nơi không chứa kim loại nặng và có nguồn nước tưới không ô nhiễm.

Làm đất để trồng mới nương chè phải đạt yêu cầu kỹ thuật là “sâu, sạch, ải, sớm”. Cày sâu toàn bộ bề mặt 20-25 cm, bừa san. Sau đó cày phơi ải đất, bừa kỹ làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, kích thích vi sinh vật đối kháng và vi sinh vật phân giải chất hữu cơ hoạt động. Khi không cày toàn bộ bề mặt, có thể đào rãnh để trồng chè. Rãnh được đào sâu 40-45 cm, rộng 50-60 cm và lấp đất bề mặt xuống dưới, lấp đất cái lên trên cách mặt đất 5-10 cm.

Trồng cây khỏe

Chọn cây chè giống đủ tiêu chuẩn: cây chè giống phải có 8-12 tháng trong vườn ươm với số lá thật là 6-8 lá trở lên; chiều cao cây là 20-30 cm (tùy giống), đường kính gốc là 3-5 cm (tùy giống), màu thân hóa nâu; lá to, dày, cứng, xanh thẫm hoặc xanh vàng (tùy giống), không có nụ, hoa, sạch sâu bệnh. Bầu còn nguyên vẹn.

Xới xáo mặt đất ở giữa các hàng chè

Cuốc xới một lớp đất mỏng 2-3 cm có tác dụng trừ diệt cỏ dại và một số sâu bênh hại chè. Xới xáo được tiến hành 2 lần/năm: lần thứ nhất vào tháng 2-3 sau khi có mưa xuân và cỏ dại đã mọc nhiều; lần thứ 2 vào tháng 9-10 trước khi cỏ dại ra hoa.

Tủ gốc cây chè

Sau khi trồng cây chè giống xong cần tủ gốc hai bên hàng hay ở từng hốc trồng. Tủ gốc chè với chiều rộng 50-60 cm, dày 10 cm.

Trồng xen

Khi chè ở giai đoạn cây con, có thể trồng xen một số cây vào giữa các hàng chè. Cây trồng xen thường là cây làm phân xanh (cốt khí, muồng dùi đục, muồng lá nhọn,...) hoặc cây rau màu (lạc, đậu tương, đậu xanh,...).

Trồng cây che bóng

Cây che bóng thường là cốt khí, muồng hoa vàng, muồng đen, muồng lá nhọn, bồ kết tây,... Trồng cùng thời gian với trồng chè. Đốn tỉa những cành thấp sát mặt tán chè của cây che bóng.

Bón phân cân đối hợp lý

Chè trồng mới: bón lót phân hữu cơ 20-30 tấn/ha, phân lân 100-150 kg/ha

Chè ở thời kỳ kiến thiết cơ bản: bón phân tùy theo tuổi của cây (Quy trình kỹ thuật trồng chăm sóc và thu hoạch chè, 10TCN 446-2001)

Chè ở giai đoạn kinh doanh: phân hữu cơ cứ 3 năm bón một lần 25-30 tấn/ha, bón vào tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau. Phân đạm, lân, kali không được rắc trên tán lá chè.

Tưới nước hợp lý

Tưới theo phương pháp phun mưa bề mặt với vòi tưới di động hoặc cố định. Tưới nước hợp lý giúp cây chè sinh trưởng phát triển bình thường, hạn chế tác hại do bọ cánh tơ, rầy xanh, nhện đỏ gây ra trong điều kiện khô hạn.

Đốn chè đúng kỹ thuật

Đốn theo quy trình chu kỳ đốn 4 năm: thời kỳ đốn bắt đầu vào tháng 12 kết thúc vào tháng 1

Năm thứ nhất: đốn tạo khung tán và chiều cao (chiều cao 50-55cm), cắt bỏ các cành không hiệu quả. Các năm sau đốn trên vết đốn cũ từ 3-5 cm. Sang năm thứ 5 quay về đốn cao vết đốn năm thứ nhất 1-2cm.

Đối với nương chè già, suy thoái về năng suất thì tiến hành đốn đau và đốn trẻ lại và có chế độ chăm sóc riêng

Hái chè đúng kỹ thuật

Hiện nay có 2 Quy trình hái đó là: Quy trình hái san trật (quy trình cũ) và Quy trình hái cải tiến (quy trình mới).

Quy trình hái cũ làm cho nương chè lúc nào cũng có búp là nguồn thức ăn liên tục cho sâu hại làm cho sâu hại liên tục phát sinh, phát triển và thời gian cách ly cho thuốc ngắn không đảm bảo an toàn.

Để đảm bảo canh tác chè an toàn hái kỹ theo quy trình hái cải tiến sẽ loại bỏ được khá nhiều trứng rầy, nếu nương chè bị hại nặng kết hợp hái kỹ và phun thuốc rất có hiệu quả.

Quy trình hái cải tiến:

Vụ xuân (từ tháng 3-5): hái cao hơn vết đốn 10-15cm hái kỹ và hái bằng, các lứa hái sau hái bằng.

Vụ hè thu (từ tháng 6-10): lứa hái đầu tiên để chừa 1 lá cá và 1 lá thật tạo tán bằng hái kỹ, các lứa sau hái kỹ hái tạo sát mặt tán.

Vụ thu đông: (từ tháng 11-12): hái sát mặt tấn và hái kỹ

Sau lứa hái tháng 4 và tháng 7 áp dụng sửa tán nhẹ loại bỏ toàn bộ cành và búp vượt tạo tán bằng.

Quy trình này tạo cho lứa hái giảm (15-18 lứa hái/ năm), thời gian 1 lứa hái dài (15-20 ngày/ lứa) thuận lợi cho thời gian cánh ly thuốc.

Biện pháp sinh học [4]

Bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên có sẵn trên nương chè

Để bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên trong sinh quần cây chè cần:

Cho các loài gây hại tồn tại ở mật độ thấp

Áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý

Bảo đảm tính đa dạng thực vật trong hệ sinh thái cây chè

Không sử dụng thuốc hóa học bừa bãi, chỉ sử dụng thuốc hóa học khi cần thiết, dùng thuốc đặc hiệu hoặc có phổ tác động hẹp, ít độc với thiên địch mà có hiệu quả cao với sâu hại, chỉ phun vào nơi có mật độ sâu và mức độ bệnh cao hơn ngưỡng gây hại kinh tế.

Tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học và thảo mộc

Sử dụng chế phẩm sinh học từ nấm Beauveria bassiana để trừ rầy xanh

Sử dụng chế phẩm thảo mộc và dầu khoáng để trừ dịch hại trên cây chè

Sử dụng thiên địch như các loài nhện, bọ rùa đỏ, bọ rùa carabid, chuồn chuồn và thả vào hệ sinh thái cây chè.

Biện pháp thủ công [4]

Thu bắt sâu

Cắt tỉa cành chè, lá chè và búp chè bị sâu bệnh hại

Phát cỏ dại trong nương chè

Dùng bẫy đèn bắt các loài rầy

Biện pháp hóa học

Chỉ dùng thuốc hóa học khi mật độ rầy xanh đạt cao hơn 5 con/khay và sử dụng theo nguyên tắc 4 đúng.

Các hoạt chất và thuốc thương phẩm tương ứng có thể tìm thấy trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt nam. Trước khi sử dụng xem kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc.

Phụ lục

Tóm tắt tính năng tác dụng, cách sử dụng một số loại thuốc trừ rầy xanh hại chè phổ biến

Hoạt chất Abamectin

- Nhóm Avermectin trừ côn trùng, trừ nhện và trừ tuyến trùng

- Nhóm độc IV (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và nội hấp yếu

- Thuốc kích thích hoạt động của GABA. Thuốc thấm nhanh vào biểu bì nhờ men translamilaza, nên thuốc ít bị ngoại cảnh tác động, hiệu lực của thuốc kéo dài. Sau khi tiếp xúc với thuốc, côn trùng ngừng ăn ngay và chết vì đói.

- Lượng dùng: dùng từ 5 đến 8 g ai/ha, pha trong 400 - 600 lít nước/ha.

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu tuổi nhỏ, mới xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Emamectin benzoate

- Nhóm Avermectin trừ côn trùng

- Nhóm độc II (WHO)

- Thuốc trừ sâu không nội hấp, thẩm thấu mạnh vào mô lá, làm tê liệt côn trùng. Tác động đến thần kinh côn trùng

- Lượng dùng: dùng từ 5 đến 6 g ai/ha, pha trong 500 - 800 lít nước/ha.

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu hại xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 3 ngày

Hoạt chất Etofenprox

- Nhóm Pyrethroid ether trừ côn trùng

- Nhóm độc IV (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc và vị độc

- Thuốc tác động đến thần kinh côn trùng

- Lượng dùng: dùng từ 70 đến 120 g ai/ha, pha trong 400 - 600 lít nước/ha.

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu tuổi nhỏ, mới xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Imidacloprid

- Nhóm Neonicotionoid

- Nhóm độc II (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và nội hấp. Khi phun vào cây thuốc được hấp thu nhanh chóng và chuyển dịch hướng ngọn; thuốc nội hấp qua rễ mạnh.

- Trong cơ thể côn trùng thuốc không bị phân ly, thuốc dễ dàng xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương; tác động như một chất đối kháng, bằng cách kết gắn với những thụ quan nicotenic sau khớp thần kinh trong hệ thần kinh trung ương côn trùng.

- Lượng dùng: dùng từ 20 đến 35 g ai/ha, pha trong 400-600 lít nuớc/ha

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi rầy xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

Hoạt chất Thiamethoxam

- Nhóm Neonicotionoid

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn. Thuốc hấp thu nhanh vào cây và dịch chuyển hướng ngọn trong bó mạch.

- Thuốc kích động thụ quan nicotinic axetylcholin, ảnh hưởng đến xynap trong hệ thần kinh trung ương côn trùng.

- Lượng dùng: dùng từ 6 đến 8 g ai/ha, pha trong 500-600 lít nước/ha

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi rầy xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày

 

Biên soạn: Phạm Thị Thuỳ Linh, ACC

 

Tài liệu tham khảo

1. http://www.bvtvphutho.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=30&print=true

2. http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)

3. Sản xuất chè an toàn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Nhà xuất bản Nông nghiệp.

4. http://khuyennonglamdong.gov.vn/

5. http://www.alanwood.net/pesticides/index.html

6. http://sitem.herts.ac.uk/aeru/footprint/en/Reports/8.htm

7.The pesticide manual, 2010

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp