Biện pháp kỹ thuật canh tác phòng trừ sâu bệnh làm cho nông nghiệp sạch hơn

T2, 05/18/2015 - 11:31

Các biện pháp canh tác có tác dụng phòng trừ sâu bệnh hại cây được xem như là một nhóm biện pháp bảo vệ thực vật. Trong tài liệu này không đề cập đến những khía cạnh chung của các biện pháp kỹ thuật canh tác.

Thông thường, có người nghĩ rằng chỉ các biện pháp hóa học như xử lý hạt giống bằng thuốc, phun thuốc trừ sâu bệnh, xử lý kho tàng bằng thuốc v.v… mới gây ô nhiễm môi trường, còn các biện pháp kỹ thuật canh tác thì chỉ làm trong sạch môi trường. Thực tế, không hẳn như thế. Sử dụng thuốc đúng (4 đúng: đúng thuốc, đúng cách, đúng lúc, đúng chỗ) không gây ô nhiễm môi trường, dùng biện pháp kỹ thuật canh tác sai có thể gây ô nhiễm môi trường.

Nhiều người cho rằng các biện pháp kỹ thuật thâm canh làm cho cây trồng đạt năng suât cao, đều là những biện pháp có ý nghĩa phòng trừ sâu bệnh. Những người này cho rằng, các biện pháp kỹ thuật thâm canh làm cho cây trông sinh trưởng và phát triển tốt, do đó chúng có khả năng chống chịu sâu bệnh cao. Sự thật thì không hẳn đúng như vậy. Cây cho năng suất cao không phải là cây có khả năng chống chịu sâu bệnh cao. Cây sinh trưởng và phát triển tốt không phải là cây chống chịu được sâu bệnh.

Năng suất nông sản cao là yêu cầu của con người, và đó là mục tiêu của nông nghiệp. Nhưng những điều mà con người đòi hỏi ở cây chưa hẳn là những gì thật cần thiết cho bản thân cây đó. Cây trồng có những yêu cầu riêng phù hợp với quy luật phát triển sinh học của loài sinh vật đó, mà có thể không phù hợp với lợi ích của con người. Năng suất nông sản cao có thể là điều có hại cho đời sống sinh học của cây trồng. Chính vì vậy mà những biện pháp kỹ thuật thâm canh chủ yếu là nhằm thỏa mãn yêu cầu của con người, vì nó thúc đẩy tạo ra năng suất nông sản cao, chứ không phải là để đáp ứng những đòi hỏi của cây, làm cho cây sinh trưởng và phát triển phù hợp với yêu cầu sinh học của bản thân nó. Tất nhiên cũng có nhiều trường hợp có yêu cầu của cây và yêu cầu của con người về năng suất cao phù hợp với nhau. Đó là các trường hợp năng suất nông sản phù hợp với năng suất sinh học và với năng suất di truyền. Trong những trường hợp này, các biện pháp thâm canh trong chừng mực nhất định có thể làm cho cây tăng cường được đặc tính chống chịu sâu bệnh.

Trong một số trường hợp khác, biện pháp thâm canh không những không làm tăng tính chống chịu sâu bệnh của cây, mà ngược lại còn làm cho cây bị sâu, bệnh hại nhiều hơn. Thí dụ bón phân đạm có thể làm cho năng suất của lúa tăng lên, nhưng cũng đồng thời làm cho cây lúa dễ bị nhiễm bệnh bạc lá hơn. Lúa cấy dày có thể làm cho năng suất cao hơn nhưng dễ dàng nhiễm bệnh khô vằn, tiêm hạch hơn.

Xét cho cùng, tính chống chịu sâu bệnh của cây cần được hiểu cụ thể đối với loài sinh vật gây hại nào, chứ không thể hiểu một cách chung chung được. Trong thí dụ bón phân đạm trên đây, cây lúa dễ bị bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây hại, nhưng ngược lại đối với nấm gây bệnh tiêm lửa Helninthosporium oryzae thì càng bón thêm phân đạm cây lại càng ít bị bệnh hơn. Ta thấy, cũng chỉ là bón phân đạm cho lúa nhưng tính chống chịu bệnh có thể tăng lên (đối với bệnh tiêm lửa) nhưng cũng có thể giảm xuống (đối với bệnh bạc lá). Nói lên điều này để thấy không phải tất cả các biện pháp kỹ thuật thâm canh đều là những biện pháp phòng trừ sâu bệnh.

Đứng trên phương diện phòng trừ sâu, bệnh, các biện pháp kỹ thuật canh tác có nhiều ý nghĩa lớn. Tác động đúng đắn và hợp lý thì các biện pháp kỹ thuật canh tác có thể hạn chế được sự xuất hiện của sâu bệnh trên đồng. Trong một số trường hợp các biện pháp kỹ thuật canh tác góp phần tích cực vào việc diệt trừ các loài sinh vật gây hại, do đó tạo điều kiện cho môi trường sản xuất nông nghiệp sạch hơn. Trong số các biện pháp kỹ thuật canh tác có nhiều ý nghĩa đối với công tác bảo vệ thực vật, đáng chú ý nhất là các biện pháp sau đây:

- Luân canh

Trong khi thực hiện luân canh, người nông dân thay đổi luân phiên các loại cây trồng trên cùng một đám đất. Việc thay đổi này tạo ra khả năng ngăn ngừa được sự tích lũy của sâu bệnh trên đám đất đó. Đối với những loài sinh vật gây hại cây có tính chuyên hóa cao, đó là các loài sinh vật thường chỉ chuyên gây hại trên một loài cây, thậm chí trên một số giống cây, khi gặp các loài cây trồng hoặc giống cây trồng khác, chúng không thể phát triển được, cho nên bị chết nhiều.

Chọn cây trồng thích hợp để luân canh ta có thể loại trừ được các loài sinh vật gây hại chuyên tính hoặc hạn chế tác hại của chúng đến mức thấp nhất. Một số loài cây có khả năng tiết ra các chất kháng sinh vào đất, có thể tiêu diệt một số loài vi sinh vật và tuyến trùng trong đất. Người ta đã đưa những cây trồng này vào các hệ thống luân canh để giải phóng cho đất khỏi những loài sinh vật gây hại cho cây trồng chính.

- Cơ cấu cây trồng và bố trí phân bố cây trồng trên đồng ruộng

Khi gặp điều kiện thuận lợi, các loài sinh vật gây hại cho cây phát triển mạnh. Nếu có thức ăn đầy đủ chúng sinh sản hàng loạt và tạo thành các trận dịch. Đối với từng loại sinh vật gây hại, không phải loài cây nào cũng dùng làm thức ăn được, mà chúng chỉ có thể dùng những loài cây nhất định làm thức ăn. Vì vậy, khi trên đồng ruộng có nhiều loài cây khác nhau, sự phát triển của loài sâu bệnh gây hại sẽ gặp trở ngại khi chúng gặp loài cây không dùng làm thức ăn được.

Chọn một cơ cấu cây trồng thích hợp sẽ tạo nên những điều kiện không thuận lợi cho các loài sinh vật gây hại cây phát triển và lan rộng. Trong nhiều trường hợp, không những các loài cây trồng khác nhau ngăn cản sự phát triển của các loài gây hại, mà các giống cây trồng cùng loài nhưng có các đặc tính chống chịu sâu bệnh khác nhau cũng gây ra những trở ngại đáng kể cho sự phát triển và lan rộng của các loài gây hại. Thông thường người ta không trồng những loài cây có họ hàng gần nhau có cùng những đặc tính giống nhau, ở sát cạnh nhau, vì như vậy các loài sinh vật gây hại có thể từ loài cây này lan sang loài cây kia để gây hại. Thí dụ người ta không trồng khoai tây bên cạnh cây cà chua để tránh sự lây lan của bệnh mốc sương, không trồng đỗ tương gần đỗ trắng để tránh lây lan bệnh gỉ sắt v.v…

Trên đồng ruộng người ta thường trồng các giống cây chống chịu với các loài sinh vật gây hại nguy hiểm của vùng đó với tỷ lệ diện tích lớn hơn các giống nhiễm bệnh. Những giống cảm nhiễm đối với các loài sinh vật gây hại nguy hiểm của vùng nhưng có những đặt tính kinh tế quý như năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt, người ta trồng xen với những tỷ lệ thích hợp vào giữa các giống chống chịu.

Tính đa dạng trên đồng ruộng ngoài việc ngăn ngừa sự phát triển và lan rộng của các loài sinh vật gây hại cây, còn có tác dụng trong việc tạo điều kiện để tránh việc áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác, phân bón, dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật giống nhau trên những diện tích rộng lớn. Vì điều này có thể dẫn đến việc tích tụ các chất hóa học trong đất và làm cho môi trường đất bị ô nhiễm.

- Chế độ làm đất

Cày phơi ải, cày lật gốc rạ, tiêu diệt tàn dư cây trồng và diệt cỏ dại trên đồng ruộng có ý nghĩa rất lớn trong việc diệt trừ các loài sinh vật gây hại sống và tồn tại trong đất. Cày lật đất lên làm cho ánh sáng mặt trời trực tiếp tiêu diệt một số loài sinh vật gây hại được đưa từ các lớp đất dưới sâu lên trên mặt đất. Mặt khác, ánh sáng, độ thoáng không khí thúc đẩy quá trình oxy hóa, các quá trình phân giải háo khí làm nhanh cóng phân hủy các chất hữu cơ, các chất độc tích tụ trong đất làm cho đất trở nên sạch hơn.

Cày lật đất làm cho đất thoáng, khô, kích thích hoạt động của các loài sinh vật có ích sống trong đất, các loài vi sinh vật đối kháng, thúc đẩy chúng cạnh tranh và tiêu diệt các loài sinh vật ký sinh, gây hại cây. Cày làm cho tàn dư cây, gốc rễ cây còn sót lại trong đất sau khi thu hoạch chóng bị phân hủy làm mất nơi ẩn nấp và nương tựa của sâu bệnh. Cày sâu, bừa kỹ tạo điều kiện thuận lợi cho rễ cây phát triển, hút thức ăn thuận lợi dễ dàng tạo điều kiện cho cây phát triển tốt, khỏe mạnh, không tích lũy các chất có hại và tăng khả năng chống chịu đối với các loài sinh vật gây hại. Cày bừa kỹ làm cho đất thoáng, các quá trình chuyển hóa các chất xảy ra với cường độ cao, không khí thâm nhập sâu vào trong các lớp đất làm cho các chất độc, các chất kháng sinh do hoạt động của các loài vi sinh vật tiết ra trong đất chóng bị phân hủy và giảm bớt tác động có hại đối với cây. Các biện pháp kỹ thuật làm đất khác như: đập đất, lên luống, lăn đất, xới xáo đều có những tác động tương tự và làm cho môi trường đất trở nên lành, sạch hơn đối với cây.

- Thời vụ gieo trồng

Các loài sinh vật gây hại cho cây phát triển mạnh khi gặp các điều kiện khí hậu thời tiết và thức ăn thuận lợi. Chọn thời vụ gieo trồng thích hợp, có thể làm cho giai đoạn sinh trưởng của cây làm thức ăn thích hợp nhất cho các loài sinh vật gây hại không trùng với những thời gian mà điều kiện khí hậu thời tiết thích hợp nhất cho sự phát triển của chúng. Do đó tạo nên sự lệch pha và tình trạng không thật thuận lợi đối với sự phát triển của các loài gây hại.

Tuy nhiên, đối với mỗi loài cây trồng thường chỉ có những khoảng thời gian thích hợp nhất định, mà chỉ gieo trồng trong phạm vi thời gian đó cây mới có khả năng cho năng suất cao. Vì vậy điều chỉnh thời vụ gieo trồng chỉ có thể thực hiện được trong những phạm vi nhất định. Thực tế trồng lúa ở nước ta cho thấy các ruộng lúa xuân muộn và lúa thu thường bị sâu đục thân lúa gây hại và sâu cuốn lá phá mạnh. Ở đây, ngoài thời vụ gieo trồng thích hợp cho sự phát triển của sâu, còn do các vụ lúa này thường được gieo cấy với diện tích quá ít vào thời gian giữa 2 vụ lúa chính: đông xuân và vụ mùa, cho nên sâu thường tập trung nhiều và gây hại nặng. Để ngăn ngừa tình trạng này, nhiều nơi đã có chủ trương không cấy lúa vụ thu nữa.

Lựa chọn và sắp xếp thời vụ hợp lý có tác dụng phân bố đều đặn các tác động kỹ thuật lên cây trồng theo thời gian, không tập trung quá nhiều vào một số thời điểm, gây ra những trở ngại cho tích lũy và phát triển của các loài sinh vậy gây hại, cho nên làm giảm mức độ gây ô nhiễm cho môi trường. Ngoài ra, bố trí hợp lý thời vụ còn tạo thêm điều kiện để sử dụng tốt tài nguyên khí tượng thủy văn, phân bố lao động đều theo thời gian và khai thác tốt tiềm năng đất đai.

- Phân bón

Giải quyết tốt chế độ bón phân cho cây có ý nghĩa rất lớn không những trong việc huy động tiềm năng năng suất của cây mà cả trong việc phòng trừ các loài sinh vật gây hại.

Trên phương diện bảo vệ thực vật và làm cho nông nghiệp sạch hơn, các loại phân hữu cơ có nhiều mặt tốt và được đánh giá cao. Nhiều người cho rằng để đảm bảo nông nghiệp sạch, chỉ nên bón phân hữu cơ và thôi không nên sử dụng các loại phân hóa học nữa. Phân hữu cơ, ngoài những ưu điểm của một loại phân bón tốt, trên phương diện nông nghiệp sạch, còn có những tác dụng sau đây:

+ Đẩy mạnh hoạt động của các loài sinh vật trong đất, nhất là các loài vi sinh vật làm cho chúng tăng cường hút NO3- thừa, rồi sau đó giải phóng ra từ từ để cung cấp cho cây.

+ Chất hữu cơ trong quá trình phân giải, có giải phóng ra một số chất có tác động kìm hãm đối với một số loài vi sinh vật gây bệnh được giữ lại trong đất. Thí dụ các chất hữu cơ phân hủy làm cho nấm Botrytis cinerea gây bệnh cho cây rau không hình thành được clamidospo (hậu bào tử).

+ Các chất hữu cơ làm thay đổi các tính chất lý hóa của đất, qua đó mà ảnh hưởng đến khả năng duy trì, lan truyền và sinh sống của một số loài sinh vật gây hại cây trong đất. Chất hữu cơ làm tăng khả năng hấp phụ của đất, giữ chặt một phần các chất độc do ký sinh tiết ra, làm giảm ảnh hưởng của chúng đối với cây.

+ Chất hữu cơ trong đất kích thích sự hoạt động của các loài sinh vật hoại sinh, đối kháng làm cho chúng tiết ra nhiều chất kháng sinh. Các chất này kìm hãm hoạt động của các loài sinh vật gây bệnh, làm cho chúng suy yếu và dễ bị các loài hoạt sinh tiêu diệt.

+ Chất hữu cơ trong đất là nguồn thức ăn cho các vi sinh vật hoại sinh, xạ khuẩn, tuyến trùng và đặc biệt là giun đất. Nhóm các loài sinh vật này là nhóm chủ yếu tạo nên sự sống của đất. Chúng làm cho đất tơi, xốp, có cấu trúc và ngày càng tăng độ phì nhiêu.

Tuy nhiên, cần chú ý là các chất kháng sinh chỉ có tác dụng kìm hãm đối với các loài vi sinh vật gây bệnh cây ở các nồng độ cao. Ở các nông độ thấp không những chúng không kìm hãm được hoạt động của các sinh vật gây bệnh mà còn có tác dụng kích thích. Vì vậy, ở các loại đất nghèo chất hữu cơ, bón một lượng phân hữu cơ quá ít, thường có tác động có hại hơn là có lợi vì các loài vi sinh vật gây bệnh sẽ hoạt động mạnh hơn.

Trên phương diện làm nông nghiệp sạch và bảo vệ thực vật, các loại phân vô cơ thường được xem là yếu tố không mong muốn. Nhiều người cho rằng các loại phân vô cơ là nguyên nhân gây ra tình trạng không sạch trong nông nghiệp. Điều cần thiết là cần có nhận thức đúng đắn về vai trò tác dụng của các loại phân vô cơ.

Trong các loại phân vô cơ, đáng chú ý nhất là các loại phân đạm (N). Trường hợp bón quá nhiều phân đạm, đối với cây xảy ra hiện tượng thừa đạm. Các bộ phận của cây, nhất là các cơ quan sinh trưởng sẽ phát triển mạnh lên, tạo thêm nguồn thức ăn thích hợp cho nhiều loài sinh vật gây hại. Đạm thừa làm cho cây chậm thành thục, quả chậm chín. Thừa đạm làm cho vỏ tế bào cây trở nên mỏng, tạo điều kiện dễ dàng cho một số loài vi sinh vật gây bệnh xâm nhập. Bón nhiều đạm cũng kích thích một số loài vi sinh vật sống trong đất xâm nhập vào rễ và gây bệnh cho cây.

Phân lân (P) trong một số trường hợp làm tăng tính chống chịu của cây đối với một số loài sinh vật gây hại. Ở một số trường hợp khác, ngược lại bón phân lân làm cho bệnh cây phát triển mạnh hơn.

Phân kali (K) trong nhiều trường hợp làm tăng tính chống bệnh của cây. Trên phương diện này, kali có 2 mặt tác động: tăng cường các mô cơ giới trong cây, điều hòa quá trình hút đạm và sử dụng đạm của cây.

Rõ ràng là phân vô có có nhiều mặt tác dụng. Đó là yếu tố thật cần thiết cho thâm canh, không có phân vô cơ khó có thể đạt được các năng suất cây trồng cao. Trên phương diện bảo vệ thực vật, phân vô cơ cũng có nhiều tác dụng tích cực. Với lượng phân vô cơ được bón ở nước ta như hiện nay, trường hợp bón thừa là rất ít, có thể nói là rất ít gặp. Vì vậy, tác dụng gây ô nhiễm của phân vô cơ đối với môi trường sản xuất, đối với nông sản chỉ là trường hợp hiếm gặp. Tuy nhiên, điều quan trọng là trong bất cứ trường hợp nào cũng phải sử dụng đúng kỹ thuật. Bởi vì, các trường hợp gây ra hậu quả khôn tốt phần lớn đều do cách dùng không đúng kỹ thuật.

- Các biện pháp chăm sóc, vun xới, tỉa cành, bấm ngọn

Những biện pháp này có mục đích chính là nhằm thúc đẩy và điều hòa các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây để đạt năng suất kinh tế cao. Về phương diện làm nông nghiệp sạch và phòng trừ các loài sinh vật gây hại, các biện pháp này có ý nghĩa trên cả 2 mặt: một là cắt bỏ các bộ phận, các phần bị bệnh của cây, hai là thúc đẩy các phản ứng chống chịu của cây đối với các loài sinh vật gây hại.

Hai ý nghĩa trên đây đan xen vào nhau và phối hợp với các ý nghĩa thâm canh khác của các biện pháp. Nếu không có hiểu biết và nhận thức đầy đủ, con người trong quá trình chăm sóc cho cây có thể làm môi giới giúp cho các loài sinh vật gây hại lan tràn từ nơi này sang nơi khác.

Như vậy, các biện pháp kỹ thuật canh tác có nhiều ý nghĩa đối với nông nghiệp sạch cũng như đối với bảo vệ thực vật. Các biện pháp kỹ thuật canh tác nếu được thực hiện hợp lý, đúng kỹ thuật sẽ tạo ra môi trường “sạch” cho cây trồng phát triển và có nhiều khả năng tác động ngăn ngừa sự gây hại của các loài sâu bệnh. Trong nhiều trường hợp chỉ riêng việc áp dụng kịp thời và đúng đắn các biện pháp kỹ thuật canh tác cũng đủ để ngăn ngừa sâu bệnh gây hại mà không cần đến các biện pháp khác, do đó hạn chế khả năng gây ô nhiễm môi trường sản xuất. Các biện pháp bảo vệ thực vật khác như hóa học, sinh học v.v… cũng chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng trên cơ sở áp dụng đúng đắn những biện pháp kỹ thuật canh tác. Chính vì vậy, biện pháp kỹ thuật canh tác được đặt ở trung tâm tổng hợp bảo vệ cây.

Để thực hiện nông nghiệp sạch, phòng trừ các loài sinh vật gây hại có hiệu quả, từng biện pháp riêng rẽ cũng như toàn bộ các biện pháp kỹ thuật canh tác cần đạt được các yêu cầu sau đây:

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, có khả năng bù đắp được các phần thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Làm tăng khả năng chống chịu đối với các loài sinh vật gây hại.

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật có ích (các loài thiên địch) phát triển, phát huy tác dụng của chúng để kìm hãm và tiêu diệt các loài sinh vật gây hại.

+ Tạo môi trường lành, sạch cho cây phát triển và cho người sản xuất.

+ Tạo điều kiện không thuận lợi cho các loài sinh vật gây hại cây.

+ Trực tiếp diệt trừ các loài sinh vật gây hại.

+ Làm biến đổi một số loài ký sinh gây bệnh cho cây thành các loài hoại sinh sống dựa chủ yếu vào các chất hữu cơ được bón vào đất.

GS.TS Đường Hồng Dật

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp