Anh toàn sinh học

Từ điển

Select any filter and click on Apply to see results
T4, 09/24/2014 - 16:23

Sự an toàn cho sức khỏe, đời sống và các hoạt động sản xuất của con người đối với những tác động có hại của các loài sinh vật.
An toàn sinh học của con người cần được bảo đảm từ 2 phía tác động: Từ các loài sinh vật tỏng các hệ sinh thái bản địa và từ các loài sinh vật ngoại lai (đến từ các nước khác). Đối với các tác động của các loài sinh vật trong hệ sinh thái bản địa thường gặp là: Các tác động gây độc hại của các loài động vật, thực vật có chứa chất độc hại; các loài ký sinh trùng, vi sinh vật gây bệnh cho con người, cho gia súc; các loài sâu bệnh gây hại cho cây trồng; các loài động vật cắn, cấu, ăn thịt người v.v... Đối với các tác động có hại của các loài sinh vật bản địa, con người thường xuyên gặp phải và phải hàng ngày đối phó nên đã trở thành các hoạt động quen thuộc trong cuộc sống như: y tế, thú y, bảo vệ thực vật.
An toàn sinh học đối với các loài sinh vật ngoại lai, thời gian gần đây được chú ý nhiều hơn. Các loài sinh vật gây hại này được gọi là "sinh vật ngoại lai xâm hại" (còn được gọi là sinh vật lạ xâm hại). Đặc biệt từ khi Việt Nam có Luật Đa dạng Sinh học, vấn đề sinh vật ngoại lai xâm hại được đặc biệt chú trọng và Nhà nước đã có chủ trương tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn sinh học trên phương diện này.
Trong công nghệ sinh học, an toàn sinh học là những biện pháp nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ những rủi ro tiềm tằng như các ứng dụng công nghệ sinh học có thể gây ra cho con người, động vật, thực vật, vi sinh vật, môi trường và đa dạng sinh học. Trên phương diện này, an toàn sinh học bao gồm 3 nội dung chính: a) Đánh giá rủi ro; b) Quản lý rủi ro; c) Giám sát rủi ro. Đánh giá rủi ro nhằm xác định những tác động bất lợi có thể xảy ra. Quản lý rủi ro bao gồm các biện pháp quản lý những tác hại đã nhận biết ở mức có thể chấp nhận được. Mục đích của đánh giá và quản lý rủi ro là nhằm đảm bảo sự an toàn, nhưng không được để các biện pháp này trở thành rào cản đối với nghiên cứu và phát triển các sản phẩm công nghệ sinh học có giá trị. Giám sát rủi ro được thực hiện để kiểm tra việc thực hiện các quyết định về ứng dụng công nghệ sinh học. Các quyết định này (chấp nhận hay không chấp nhận) được đưa ra trên cơ sở các kết quả đánh giá và quản lý rủi ro một cách khoa học.
Ngày 21/6/2010, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị định số 69/NĐ - CP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen. Nghị định quy định những biện pháp bắt buộc phải thực hiện ở Việt Nam về an toàn sinh học bao gồm: 1) Đánh giá rủi ro và quản ls rủi ro của sinh vật biến đổi gen. 2) Về nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ về sinh vật biến đổi gen. 3) Về khảo nghiệm sinh vật biến đổi gen. 4) Về việc xét cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học và thu hồi giấy chứng nhận an toàn sinh học. 5) Về việc xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, làm thức ăn chăn nuôi. 6) Về việc sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, lưu giữ sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi genn. 7) Về việc cung cấp thông tin về sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen.

Nguồn: GS Đường Hồng Dật (chủ biên), Từ điển bách khoa nông nghiệp Việt Nam (2011), Nhà xuất bản Nông nghiệp.

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp